New
Home » Tin tức » Giới thiệu tổng quan về nano bạc

Giới thiệu tổng quan về nano bạc

883 Lượt xem

TỔNG QUAN VỀ NANO BẠC

1.1.  Nano bạc và đặc tính khử trùng của nó

Bạc là một nguyên tố có hoạt tính kháng khuẩn tự nhiên mạnh nhất được tìm thấy trên trái đất. Ở dạng nano hoạt tính này còn tăng lên gấp bội, vì vậy khi công nghệ nano được phát triển các nhà khoa học đã sớm tìm đến hướng nghiên cứu chế tạo nano bạc phục vụ cho mục đích khử trùng.

Vào cuối thế kỷ 18 các nhà khoa học Ph­ương Tây xác nhận rằng keo bạc mà y học Ph­ương Đông đã từng sử dụng trư­ớc đó hàng nghìn năm là một tác nhân khử trùng rất hiệu quả. Ở vào thời kỳ đó các nhà y học đã xem huyết thanh ng­ười là một dịch  keo, do đó keo bạc đã được sử dụng làm chất kháng khuẩn trong cơ thể con người, và kể từ đó keo bạc đư­ợc xem là một trong những chất sát khuẩn tốt nhất. Kể từ cuối thế kỷ 19 dung dịch keo bạc bắt đầu được sử dụng hết sức rộng rãi trong y học và các chế phẩm keo bạc kim loại dưới tên gọi Collargol và keo bạc ôxit dưới tên gọi Protargol đã được các bác sỹ sử dụng cho đến tận ngày nay. Dưới dạng thuốc tiêm ven keo bạc đã được sử dụng để điều trị các bệnh viêm khớp, viêm phế quản, các bệnh đường hô hấp, cúm, viêm phổi, các vết thương có mủ; dưới dạng uống – các bệnh đường tiêu hóa, loét dạ dày…; dưới dạng ngoài da – các vết thương có mủ – hoại tử, da liễu, bỏng, mụn nhọt; một số bệnh khác như mastitis (viêm tuyến vú), giang mai, hủi, đau mắt hột, viêm màng não, tiền đình [59,103]…

Tuy nhiên, sau khi con ng­ười phát minh ra thuốc kháng sinh (khoảng giữa thế kỷ 20) với hiệu lực mạnh hơn, keo bạc đã bị thay thế dần. Nh­ưng chỉ 30 năm sau đó người ta đã nhận ra rằng có rất nhiều loài vi khuẩn có khả năng chống lại tác dụng của thuốc kháng sinh và hiện tượng đó ngày càng trở thành vấn đề đáng lo ngại. Vì vậy bằng lịch sử phòng bệnh lâu đời của mình nguyên tố bạc đã gây lại được sự chú ý nơi các nhà y học bởi chính khả năng không gây hiệu ứng kháng thuốc [34,80].

Trước khi các bác sỹ có trong tay penicilin, bạc dưới dạng dung dịch keo được sử dụng hết sức rộng rãi để chống lại các viêm nhiễm cho các vết thương, vết bỏng, vết cắt, chữa các bệnh đau răng, các vết loét vùng miệng, đau mắt v.v… Đối với các bệnh viêm phổi do nhiễm staphylococcus, streptococcus, klebiella và nấm người ta cũng đã từng cho bệnh nhân uống dung dịch keo bạc, bởi vì loại viêm phổi này khi đó thực tế không điều trị được bằng các loại thuốc kháng sinh quen thuộc. Tuy nhiên, vào thời kỳ này cũng đã xuất hiện những kết quả ứng dụng ion bạc vô cùng ấn tượng làm ngạc nhiên các nhà y học. Chẳng hạn, trong đại chiến thế giới II (năm 1942) bác sỹ người Anh R. Benton đã thành công trong việc ngăn chăn hoàn toàn bệnh dịch tả và thương hàn hoành hành trong một đơn vị lính đang xây đường Miến Điện – Assam bằng cách cho họ uống nước chứa keo bạc (10mg/lít) thu được bằng phương pháp điện phân nước uống sử dụng điện cực từ bạc kim loại.

Không chỉ ion bạc, mà các ion kim loại qúy khác như­ Au, Pt, Pd, Ir và một số kim loại chuyển tiếp khác như­ Cu, Zn, Fe, Co, Ni cũng đều có khả năng diệt khuẩn, nhưng chỉ có ion bạc thể hiện tính năng đó mạnh nhất. Ngày nay các nhà y học có ý kiến thống nhất rằng bạc là một chất kháng vi khuẩn tự nhiên có độc tính cao đối với hầu hết các loài vi sinh vật, có phổ diệt vi khuẩn, nấm và virut rất rộng (trên dưới 650 loài [8,20,87]  mà chúng không có khả năng tạo đề kháng chống lại tác động của bạc do bạc ức chế quá trình chuyển hóa hô hấp và vận chuyển chất qua màng tế bào vi sinh vật.

Nhờ vào những thành tựu lớn lao của công nghệ nano mà ngày nay nguyên tố bạc dưới dạng các hạt nano đã trở thành vật liệu được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học – sản xuất như y học, nông nghiệp, công nghiệp v.v… [8,80,87].

Nano bạc được các đặc biệt quan tâm áp dụng trong y học chủ yếu là do các hạt nano bạc có năng lượng bề mặt rất lớn nên khi tiếp xúc với môi trường nước chúng trở thành như một “kho chứa” để giải phóng từ từ các ion bạc vào dung dịch, nhờ vậy lượng bạc “trong kho” không bị các thành phần trong dung dịch vô hiệu hóa nhanh như vậy, có thể nói các hạt nano bạc làm duy trì đặc tính diệt vi sinh vật của ion bạc. Khả năng ứng dụng nano bạc trong việc khử trùng đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế diệt vi sinh vật của ion bạc trong những năm gần đây như trường hợp đối với muối bạc. Khi được thêm vào băng gạc, kem bôi, bình xịt, vải v.v… nano bạc thể hiện chức năng của tác nhân chống viêm nhiễm và có tác dụng diệt khuẩn phổ rộng bằng cách phá hủy chức năng của màng tế bào vi sinh vật và hoạt tính của các men. [8,20].

Theo tác giả Lansdown, mặc dù chắc chắn nano bạc có thể tạo phức với một số axit amin do đó có thể ức chế các chức năng của protein, nhưng nó thể hiện rất hạn chế độc tính đối với các tế bào động vật máu nóng [8].

1.2.Cơ chế diệt khuẩn của ion bạc

Bạc là một nguyên tố có tính kháng khuẩn tự nhiên, có phổ rộng tiêu diệt các loài vi sinh vật gấy bệnh, đồng thời là một chất thân môi trường, bởi vì không gây hiệu ứng độc hại đối với cơ thể con người và động vật nếu được sử dụng với liều lượng vừa đủ cho việc khử trùng. Hiện nay tồn tại một số quan điểm giải thích cơ chế diệt khuẩn của bạc được nhiều người ủng hộ, chủ yếu dựa trên sự tương tác tĩnh điện giữa ion bạc mang điện tích dương và bề mặt tế bào vi khuẩn mang điện tích âm và trên sự vô hiệu hóa nhóm thiol trong men vận chuyển ôxy, hoặc trên sự tương tác của ion bạc với DNA dẫn đến sự đime hóa pyridin và cản trở quá trình sao chép DNA của tế bào vi khuẩn [31,47,50,101]. Các nhà khoa học thuộc hãng Inovation Hàn Quốc [11] cho rằng bạc tác dụng lên màng bảo vệ của tế bào vi khuẩn. Màng này là một cấu trúc gồm các glycoprotein được liên kết với nhau bằng cầu nối axit amin để tạo độ cứng cho màng. Các ion bạc tương tác với các nhóm peptidoglican và ức chế khả năng vận chuyển oxy của chúng vào bên trong tế bào, dẫn đến vi khuẩn bị tê liệt . Nếu các ion bạc được lấy ra khỏi tế bào ngay sau đó, khả năng hoạt động của vi khuẩn có thể lại được phục hồi. Các tế bào động vật cấp cao có lớp màng bảo vệ hoàn toàn khác so với tế bào vi sinh vật. Chúng có hai lớp lipoprotein giàu liên kết đôi có khả năng cho điện tử do đó không cho phép các ion bạc xâm nhập, vì vậy chúng không bị tổn thương khi tiếp xúc với các ion này.

Cơ chế tác động của các ion bạc lên vi khuẩn được các nhà khoa học Trung Quốc làm việc trong hãng ANSON [50] mô tả như sau: khi ion Ag+ tác dụng với lớp màng của tế bào vi khuẩn gây bệnh nó sẽ phản ứng với nhóm sunphohydril –SH của phân tử men chuyển hóa oxy và vô hiệu hóa men này dẫn đến ức chế quá trình hô hấp của tế bào vi khuẩn:

 

Ngoài ra, các ion bạc còn có khả năng ức chế quá trình phát triển của vi khuẩn bằng cách sản sinh ra ôxy nguyên tử siêu hoạt tính trên bề mặt của hạt bạc:

2Ag+  +  O-2  ®  2Ag0  +  O0

Theo một số nhà khoa học Nga [46,78], hiện nay có nhiều lý thuyết về cơ chế tác dụng diệt vi khuẩn của ion bạc đã được đề xuất, trong đó lý thuyết hấp phụ được nhiều ngườichấp nhận hơn cả. Bản chất của thuyết này là ở chỗ tế bào vi khuẩn bị vô hiệu hóa là do kết quả của quá trình tương tác tĩnh điện giữa bề mặt mang điện tích âm của tế bào và ion Ag+ được hấp phụ lên đó, các ion này sau đó xâm nhập vào bên trong tế bào vi khuẩn và vô hiệu hóa chúng. Cho đến nay mới chỉ có một quan điểm liên quan đến cơ chế tác động của ion bạc lên tế bào vi sinh vật được đa số các nhà khoa học thừa nhận. Đó là khả năng diệt khuẩn của hạt nano bạc là kết quả của quá 4trình chuyển đổi các nguyên tử bạc kim loại thành dạng ion Ag+ tự do và các ion tự do này sau đó tác dụng lên các vị trí mang điện tích âm trên vi khuẩn [11].

Khả năng diệt khuẩn của ion bạc không dựa trên đặc tính gây nhiễm của vi khuẩn như là đối với các chất kháng sinh, mà dựa trên cơ chế tác dụng lên cấu trúc tế bào. Bất cứ tế bào nào không có màng bền hóa học bảo vệ ( vi khuẩn và virut thuộc cấu trúc loại này) đều chịu tác động của bạc. Các tế bào động vật máu nóng có cấu trúc màng hoàn toàn khác, không chứa các lớp peptidoglycan, nên bạc không tác động được. Nhờ sự khác biệt đó nano bạc có thể tác động lên 650 loài vi khuẩn, trong khi phổ tác động của bất kỳ chất kháng sinh nào cũng chỉ từ 5 – 10loài.

Liên quan đến cơ chế khử trùng của ion bạc, một số nhà nghiên cứu [8,31,50,101] nghiêng về các quá trình hóa-lý, chẳng hạn:

– Quá trình ôxy hóa nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn hoặc quá trình phá hủy nguyên sinh chất bởi ôxy hòa tan trong nước với vai trò xúc tác của bạc.

– Quá trình vô hiệu hóa men có chứa các nhóm –SH và –COOH; bằng phá vỡ cân bằng áp suất thẩm thấu; bằng quá trình tạo phức với axit nucleic dẫn đến thây đổi cấu trúc DNA của vsv.

– Tác động gián tiếp lên phân tử DNA bằng cách tăng số lượng các gốc tự do dẫn đến làm giảm hoạt tính của các hợp chất chứa ôxy hoạt động.

– Ức chế quá trình vận chuyển các ion Na+ và Сa2+ qua màng tế bào.

Ngoài ra, còn có ý kiến cho rằng bạc không tác động trực tiếp lên DNA của tế bào, mà gián tiếp làm tăng số lượng các gốc tự do dẫn đến làm giảm nồng độ các hợp chất ôxy hoạt tính trong tế bào, làm rối loạn các quá trình ôxy hóa cũng như phosphoryl hóa trong tế bào vi khuẩn. Cũng có quan niệm rằng một trong những nguyên nhân của tác dụng kháng khuẩn phổ rộng là sự ức chế quá trình vận chuyển qua màng của các ion Na+ và Ca2+ bởi ion bạc [112]. Ion bạc còn thể hiện rõ khả năng diệt nhiều chủng vi rut và nấm.

Một số nhà khoa học [100] nhận định rằng ion bạc có khả năng vô hiệu hóa các loài virut gây bệnh đậu mùa, bệnh cúm A-1, B, adenovirus và HIV, cho hiệu quả điều trị tốt đối với các bệnh virut Marburg, virut bệnh đường ruột (enterit)  và virut bệnh chó dại. Tuy nhiên, để có thể vô hiệu hóa hoàn toàn virut bacteriophag đường ruột N163, virut Koksaki serotyp A-5, A-7, A-14 cần đến nồng độ bạc cao hơn (0.5 – 5.0mg/lít) so với trường hợp xử lý Escherichia, Salmonella, Shigellia và các loài virut đường ruột khác (0.1 – 0.2 mg/lít).

Số liệu công bố của Kulskii A. L. [46] cho thấy khả năng diệt nấm của ion bạc. Tại nồng độ  0.1mg/lít bạc thể hiện rõ khả năng diệt nấm. Với mật độ 105 tb/lít nấm Candida albicans bị vô hiệu hóa hoàn toàn sau 30 phút tiếp xúc.

Hiện nay trong khi cơ chế tác dụng của các ion bạc lên vi sinh vật vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ và đang tiếp tục được nghiên cứu nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu có quan điểm thống nhất rằng (1) chúng phá hủy chức năng hô hấp, hoặc (2) phá hủy chức năng của thành tế bào, hoặc (3) liên kết với DNA của tế bào vi sinh vật và phá hủy chức năng của chúng.

1.3.Tác dụng của ion bạc lên cơ thể con người

Tác dụng của ion bạc lên tế bào động vật cấp cao luôn được quan tâm đặc biệt. Người ta phát hiện ra rằng khi ủ các tế bào não của chuột và của vi sinh vật vào dung dịch có ion bạc hình thái của hồng cầu và bạch cầu hoàn toàn không thay đổi, trong khi các tế bào vi khuẩn bị tiêu diệt hoàn toàn [8]. Các tế bào chuột dưới tác động của ion bạc chuyển thành dạng hình cầu nhưng không bị phá hủy và thành tế bào giữ nguyên dạng. Các tế bào não chuột này sau đó sinh sản bình thường và cấu trúc tế bào cũng như khả năng sinh sản vẫn được giữ nguyên .

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [78] đã xác định liều lượng bạc tối đa không gây ảnh hưởng đối với sức khỏe con người là 10g (nếu hấp thụ từ từ). Nghĩa là, nếu một người trong toàn bộ cuộc đời của mình (70 tuổi) ăn và uống vào 10g bạc, đảm bảo không có vấn đề gì về sức khỏe. Trên cơ sở đó Tổ chức EPA của Mỹ đã xác lập tiêu chuẩn tối đa cho phép của bạc trong nước uống của Mỹ là 0.1mg/lít, trong khi Cộng đồng châu Âu áp dụng tiêu chuẩn tối đa cho phép là 0.01mg/lít và tại LB Nga là 0.05mg/lít.

Nhằm đánh giá độc tính của bạc  năm 1991 Cục Bảo vệ Môi trường của Mỹ EPA đưa ra khái niệm liều chuẩn RFD (reference dose) là lượng bạc được phép hấp thụ mỗi ngày mà không tác động xấu cho sức khỏe trong suốt cuộc đời. Liều chuẩn được EPA chấp nhận là 5mg/kg/ngày. Như vậy, một người có trọng lượng 70kg được phép tiếp nhận vào người tối đa 350mg bạc mỗi ngày. Nồng độ bạc tối đa cho phép trong nước uống của Mỹ là 100mg/lít (EPA 1991). Nếu mỗi ngày uống 2lít nước thì con người nhận vào 200mg bạc, các loại thực phẩm ăn vào mỗi ngày chiếm trung bình 90mg và phần còn lại dành cho việc khác không quá 60mg. Vì vậy ngày nay nhiều phương pháp điều trị có sử dụng bạc trước đây đã được hủy bỏ: bệnh động kinh – cho uống dung dịch nitrat bạc, bệnh giang mai – tiêm ven dung dịch arsphenamin bạc; nhiều bệnh nhiễm trùng – cho uống keo bạc. Và gần đây Mỹ đã cấm bán không kê đơn tất cả các loại thuốc chứa bạc.

Theo Vainar A. I. [99] bạc là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự hoạt động của các tuyến nội tiết, não và gan, tuy nhiên với nồng độ cho phép không được vượt quá 0.05mg/lít dịch cơ thể. Theo số liệu của tác giả này, khẩu phần cho người mỗi ngày trung bình 80mg ion bạc. Tổng hàm lượng bạc trong cơ thể người và động vật được xác định là 0.2mg/kg trọng lượng khô, trong đó não, các tuyến nội tiết, gan, thận và xương chứa hàm lượng cao nhẩt. Khi có mặt ion bạc cường độ phosphoryl hóa ôxy hóa trong các ty thể não cũng như hàm lượng axit nucleic tăng lên đáng kể giúp cải thiện chức năng não. Khi ngâm các mô khác nhau vào dung dịch sinh lý có nồng độ ion bạc 0.001mg/lít mức độ hấp thụ oxy của mô não tăng 24%, cơ tim – 20%, gan – 36%, thận – 25%. Nhưng nếu tăng nồng độ Ag+lên 0.01mg/lít thì mức độ hấp thụ ôxy của các mô đó giảm xuống rõ ràng. Điều đó chứng tỏ các ion bạc đã tham gia vào việc điều chỉnh quá trình trao đổi năng lượng [18,94].

Brugdunov Брызгунов В.С. và cs [94] công bố kết quả nghiên cứu lâm sàng khi cho bệnh nhân uống nước ion bạc thay nước uống với nồng độ 30 – 50 mg/lít trong thời gian 7 – 8 năm cho thấy hiện tượng tích tụ bạc dưới da làm cho da bệnh nhân có màu xám (bệnh argiria), hậu quả của quá trình khử quang hóa của các ion bạc. Tuy nhiên đã không phát hiện được ở các bệnh nhân này bất kỳ thay đổi nào về  chức năng của các cơ quan nội tạng, không những thế các bệnh nhân còn thể hiện tính đề kháng đối với nhiều loại vi khuẩn và virut.

Vai trò sinh lý của bạc trong cơ thể con người hiện tại vẫn chưa được làm rõ. Nhiều ý kiến cho rằng bạc giữ vai trò như một chất ức chế men [7,95]. Các kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng các ion bạc có thể tương tác với các bazơ nitơ timin và guanin của phân tử DNA làm rối loạn các chức năng của DNA, dẫn đến ức chế quá trình phát triển và sinh sản của vi sinh vật. Người ta cũng đã xác định được rằng ion bạc có khả năng bao vây các nhóm –SH có mặt trong tâm hoạt động của rất nhiều loại men và ức chế hoạt tính của chúng. Thí dụ, bạc bao vây hoạt tính ATP của men miozin (protein cơ bản của mô cơ người) có khả năng phân giải ATP giải phóng ra năng lượng. Quá trình diệt khuẩn của ion bạc cũng diễn ra theo cơ chế này.

1.4.Một số ý kiến không đồng quan điểm về độc tính của nano bạc

Mặc dù tính an toàn y học của nano bạc đã được nhiều công trình nghiên cứu xác nhận, người ta vẫn có thể tìm thấy trong các tài liệu công bố một số ý kiến không đồng quan điểm về tính năng sát khuẩn và độc tính của nano bạc. Một số ý kiến điển hình được dẫn ra dưới đây.

Theo Đại bách khoa toàn thư y học Liên Xô (T.23, 190-192, XB lần III), bạc là chất độc tế bào, là chất sinh học ngoại lai (xenobiotic), và theo quy định của Bộ Y tế Nga có độc tính bậc II, tương đương Pb. Cũng theo số liệu công bố này, gan là cơ quan chịu trách nhiệm bài tiết lượng bạc hấp thụ ra khỏi cơ thể với thời gian bán bài tiết 50 ngày, và dưới tác dụng lâu dài của bạc có thể xuất hiện bệnh đường tiêu hóa, gan to và đau.

Các nhà khoa học Singapo đã khảo sát độc tính của nano bạc trên ấu trùng của loài cá cảnh (stripped danio) và đi đến kết luận rằng, phụ thuộc vào nồng độ đưa vào,  nano bạc là một chất độc tiềm tàng đối với cơ thể . Sau khi đưa nano bạc vào não của ấu trùng các nhà khoa học này đã phát hiện thấy những khuyết tật trầm trọng trong quá trình phát triển của ấu trùng gây ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh trung ương, làm rối loạn nhịp tim và quá trình hô hấp [60]. Tuy nhiên các tác giả không dẫn ra nồng độ nano bạc cụ thể.

Ủy ban khoa học về thuốc và thiết bị y tế của Mỹ SCMPD (Sci. Committee on Med. Products and Devices) ngày 27-6-2000 đã công bố văn bản chính thức cấm sử dụng bạc làm thuốc uống cho người, chỉ được áp dụng tại chỗ trên da hoặc trên niêm mạc. Tuy nhiên trong khi đó Khối EEC lại ra văn bản Annex IV 94/36 E 174 cho phép sử dụng kim loại này làm chất tạo màu cho thực phẩm, đồng thời một số sản phẩm thực phẩm chức năng hiện đang được lưu hành ở Mỹ cho phép người sử dụng uống vào người mỗi ngày ≤ 0.03mg bạc.

Tác giả Fiona Gray trong bài [57] cho rằng những thông tin quảng cáo rầm rộ trên mạng về nano bạc hiện nay có thể làm cho hàng nghìn người có nguy cơ mắc các bệnh trầm kha kéo dài. Các loại thuốc uống, nước uống và viên uống chứa nano bạc thường được các nhà sản xuất quảng cáo là sản phẩm tăng cường sức khỏe bằng cách diệt các loài vi khuẩn độc hại. Theo tác giả, các hạt nano bạc chỉ có thể sử dụng an toàn và hiệu quả dưới dạng băng gạc và điều trị bên ngoài, trong khi đó các chuyên gia lo ngại rằng việc sử dụng bên trong có thể dẫn đến sự tích tụ nano bạc bên trong cơ thể, làm phá hủy các tế bào não, chức năng gan, làm xuất hiện các bệnh về máu v.v…

Các nhà khoa học thuộc phái không ủng hộ nano bạc cho rằng ngày nay dung dịch nano bạc dưới dạng nước uống, mặc dù cơ chế tác dụng của nó chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, vẫn đang được sử dụng rộng rãi đến mức đáng ngạc nhiên. Chẳng hạn, chính nữ GS. Vicki Stone thuộc trường Đại học Napier của Mỹ, là người chuyên nghiên cứu về hiệu ứng nano bạc đối với cơ thể người, đã được người làm đầu cho mình khuyên nhủ nên sử dụng nano bạc. Vị Giáo sư này đã tỏ ra hết sức ngạc nhiên khi được biết người làm đầu cùng với mẹ mình thường xuyên uống nước nano bạc hàng ngày.

GS. Ken Donalson, chủ tịch Hội độc tố học đường hô hấp thuộc trường đại học Edinburg, cho rằng không nên phá vỡ cân bằng nguyên tố vi lượng trong cơ thể, bởi vì đã có nhiều kết quả thí nghiệm trên động vật được cho ăn nano bạc đã cho thấy tác dụng xấu của nó lên trọng lượng cơ thể và sức khỏe nói chung của vật thí nghiệm.

Một công bố năm 2005 của TS. Max Fung thuộc trường Đại học California cho thấy việc tiếp nhận nano bạc vào người có thể gây ra bệnh argiria và với liều lượng cao có thể dẫn đến hiện tượng thiếu máu, nhưng không cho biết liều lượng cao là bao nhiêu.

TS. Ken Lawton thuộc trường cao đẳng Hoàng gia Anh băn khoăn trăn trở một điều là các bệnh nhân đã uống vào người một sản phẩm chưa được kiểm nghiệm, trong khi rõ ràng nó có khả năng tích tụ trong cơ thể và tấn công vào gan, não và tổ chức tủy xương. Tuy nhiên sản phẩm này vẫn đang được bán tự do tại Mỹ và EPA không tìm cách cản trở việc bán chúng mặc dù tổ chức này có những quan ngại về nano bạc liên quan đến sức khỏe cộng đồng.

 
Hotline: 0908 991 349 (CSKH) - 0983.525.777 (Kỹ Thuật)